CHUYỆN ĐỨC ĐẦU ĐÀ SHILANANDA THUẦN PHỤC KẺ THỐNG LĨNH

CHUYỆN ĐỨC ĐẦU ĐÀ SHILANANDA THUẦN PHỤC KẺ THỐNG LĨNH
(Hôm nay Đức Đầu Đà đã đỡ nhiều, vô số phật tử đến cúng dường thuốc và thuốc bổ, Ngài có thể tiếp tục lại chương trình sớm hơn dự kiến, hội chúng chưa được dâng trai Tăng đến Ngài hôm nay, Ngài Ẩn Tăng Tâm Pháp cao quí đi bát).
Câu chuyện có thật sau đây được ghi hình và kể trực tiếp từ vị Kapiya (cận sự nam thị giả) hộ độ ĐỨC ĐẦU ĐÀ TĂNG BẢO CAO THƯỢNG SHILANADA, xin viết lại để quý đạo hữu Phật tử có hiểu biết hơn và tăng trưởng thêm lòng cung kính đến Ngài.
Chúng ta chỉ nội việc đứng gần những chú voi kềnh càng đồ sộ, dịu dàng và ngoan hiền như cún con trong thảo cầm viên thì cũng đã đủ sởn hết gai ốc vì choáng ngợp, cảm giác chờn chợn ghê người. Ai cũng thấy vì âu lo và nguy hiểm vì đứng cạnh thân hình quá to lớn của chúng cùng đôi mắt ướt nhưng lại quá đỗi lạnh lùng. Ngoài thiên nhiên hoang dã, những người nào hoặc loài động vật nào mà tận mục được loài voi thì cũng coi như đang đứng trước đội thi hành án tử hình với hai tay trói quặt. Trước mặt là đội binh đang chĩa thẳng họng súng đen ngòm chỉ chờ Đoàng một phát là vong đi đằng vong, xác đi đằng xác.
Ngoài tự nhiên, loài voi sẽ giết chết bất cứ sinh vật nào dám cản lối, dám xâm phạm sự yên bình của bầy đàn hay cả gan thách thức sự hung dữ vô đối bằng sự hiện diện nơi chúng có mặt. Quá nhiều người tử nạn do vô tình hay yếu sức vì không nhanh chân tránh né chúng trên đường di chuyển.
Dạo ấy vào năm cuối trong quãng thời gian 13 năm Đức Đầu Đà lánh xa cõi người. Ngài mang thân ẩn tàng, độc cư hạ thủ nhằm liễu tri các pháp xuất thế đưa đến Tam Minh và Lục Thông. Ngài đã một mình vào tận trong sâu rừng già hoang lạnh, nơi quanh năm hề có một bóng người qua lại. Ngài cứ thế Ngài ngày tựa lưng dưới cội đại thụ bồ đề để chứng nghiệm, an trú trong thiền. Địa điểm nơi Ngài tọa thì chỉ duy nhất có một hai thị giả (Kapiya) được tiết lộ lối vào và được phép lui tới để cúng dường tứ vật dụng.
Tá văn bất tải cảnh. Viết thì văn vẻ như vậy nhưng nếu chưa thử sức ngồi một mình trong rừng thì bạn không thể cảm được sự khốc liệt đến thế nào. Hãy thử làm 1 phép so sánh nhỏ mà ai trong chúng ta cũng đã từng trải nghiệm. Ngay tại nơi bạn ở, bạn hãy ra khỏi căn phòng sạch sẽ, chọn một đám cỏ xanh mướt, bạn hãy lim dim ngồi đó độ mươi phút trong sự THƠ MỘNG MỘT CÁCH ẢO TƯỞNG. Tôi đố bạn đứng lên mà không mất đến hàng giờ nghiến răng chịu những nốt cắn, chích, chọc của đám côn trùng khó bảo. Và đó, Đức Đầu Đà đã một mình, nhiều tháng nhiều năm hàng ngày chung sống và chịu đựng côn trùng, đỉa vắt, là muỗi mòng và rất nhiều rắn, chó sói, gấu,…và thậm chỉ cả Voi.
Còn nhớ trong một bài kinh Đức Phật thuyết, khi một nhóm các thầy Tỳ Khưu đến nhập hạ tại một khu rừng. Trong kỳ hạ, các vị luôn bị các chúng Atula, dạ xoa, mara, phi nhân,… và cả các vị thiên đến quấy phá đuổi đi do đã phá vỡ sự an bình vốn có từ trước. Đến lúc chịu hết nổi, các Tỳ Khưu đến bên Phật bạch rằng: kính bạch Thế Tôn, chúng con không thể tu tại khu rừng này do rất nhiều chướng ngại, xin Thế tôn chỉ dạy. Thế tôn lựa lời và dạy cho các tỳ kheo tụng các bài kinh đại bi (kinh Tâm Từ) và chia phước thù thắng đến các hàng ấy. Từ đó trở đi chúng tỳ kheo được yên ổn nhập hạ tại khu rừng đó.
Xin thưa các bạn, việc sống sót và tồn tại trong rừng là cả một sự thách đố vật lộn sống còn, là trận quyết đấu sinh tử đánh đổi mạng sống để đạt các Thánh Đạo Tâm, Thánh Đạo Quả và Niết Bàn. Muốn sống sót tồn tại trong rừng già, các Tỳ kheo không thể không thực hành 2 pháp tối quan trọng:
– CHỨNG ĐẮC VÀ AN TRÚ LIÊN TỤC TRONG CÁC THIỀN CHỨNG
– TU TẬP TỪ VÔ LƯỢNG TÂM ĐỂ HỘ THÂN
Nếu vị Tỳ Kheo không thiện xảo, không khéo huấn khéo tu thực thành các pháp hành để chứng đắc tuần tự từ thấp đến cao, từ khuyết đến tròn đủ và nếu không có sự viên mãn các pháp hành trên thì ngày ra khỏi rừng chỉ có ở các kiếp vị lai.
Người thị giả, lâu lâu cứ đến hẹn là trèo non vượt suốt cắt rừng lần mò vào cội cây nơi Ngài ẩn mình thiền tịnh. Lần ấy, vừa chạm chân đến nơi Đức Đầu Đà tu hành, bất chợt Thị giả nghe từ xa tiếng rống của một bầy voi rừng đang sầm sập lao tới. Thị giả cuống cuồng trốn chạy và không hiểu bằng cách nào, nhanh như một viên đạn, thoắt cái đã vắt vẻo lên ngọn cội cây cổ thụ gần chỗ Ngài ngồi.
Vô cùng sợ hãi và trống ngực hồi hộp, Thị giả như đếm từng hơi thở dồn dập như muốn đứt đoạn đang nổi lên nơi ngực mình và tim như bị nghiền nát, vỡ ra vì sợ hãi. Vô thường đến cũng nhanh mà đi cũng nhoáng, cơn khủng hoảng cũng lắng dần. Lúc này Người thị giả như chợt tỉnh và đưa mắt lia xuống phía dưới trước mặt. Ôi chao, Đức Đầu Đà mà bấy lâu nay anh hộ độ và cung kính chăm sóc vẫn chẳng may di chuyển. Ngài ngồi đó, trong tấm áo tu vàng óng và không hề có ý muốn dịch chuyển ra khỏi cội cây Ngài ngồi.
Nói thêm về loài voi, theo tập quán thì trong một đàn bao giờ cũng có một Tượng voi thống lĩnh. Kẻ cầm đầu này là chuẩn men hơn cả cần thiết. Hắn là hung thần với tất cả những giống loài khác mà nó gặp, trong đàn voi thì quyền lực của nó là tối thượng, bất khả tư nghì. Voi đầu đàn phải là kẻ khát mát nhất, khỏe nhất, mạnh về mọi mặt sau những trân lâm chiến đến nát cả một cánh rừng thì mề đay vàng luôn rơi vào tay hắn. Có những kẻ liều lĩnh trong đàn, ngu mà tỏ ra nguy hiểm thì sau trận lâm chiến với kẻ thống lĩnh, mạng sống cõi như đã tắt từ lâu. Sau một vài lần như vậy, voi đầu đàn mặc nhiên trở thành soái ca, có quyền dẫn dắt chỉ huy và nhận được sự cung kính kèm theo sợ hãi tất cả các thớt voi khác trong đàn.
Lướt ánh mắt xuống phía dướt, lọt vào mắt thị giả là nét bình thản đến lạ kỳ, Ngài như chẳng hề có chút chú ý nào đến tiếng rống rợn người của voi thống lĩnh hay những âm thanh sùng sục rung cả rừng cuả bầy voi đang lao tới sầm sập.
Người Kapiya đu bám mình trên ngọn cây cao, hồi hộp và vô cùng sợ hãi, lo lắng đến sự an nguy tính mạng đến Đức Đầu Đà. Lòng chắc mẩm có lẽ mình và Ngài mạng sống chỉ còn tính bằng vài giây nữa thôi. Trong hoang dại, loài voi chỉ cần ngửi thấy hơi người là lập tức chúng trở chứng phát điên như kẻ ngáo thuốc. Gặp người hay con vật, nó sẽ dùng vòi quấn thít chặt, quật mạnh vào gốc gây rồi nghiền nát dưới bàn chân khổng lồ như chiếc gầu xúc đến nát nhừ mới chịu bỏ đi.
Người thị giả, trong phút lâm chung cận kề, miệng niệm Budho và ánh mắt tràn lệ, anh thấy hối tiếc và bàng hoàng, anh tự hỏi vì sao thọ mạng mình ngắn ngủi đến vậy. Đột nhiên, thoáng lạnh sống lưng, anh thấy lừng lững một cái đầu to như quả núi mầu xám nhạt đột ngột xé cây xuất hiện. Cùng đó là ánh mắt vô cùng man dại đang phóng những tia nhìn tử thần về phía anh.
Sau giây phút đó và lạ lùng thay, kẻ thống lĩnh đột nhiên bước chân như chùn lại. Hắn khe khẽ và rón rén từng bước chậm tiến lại gần nơi Đức Đầu Đà đang thiền định trong ánh ca sa vàng sậm nổi bật giữa đám lá rừng xanh thắm. Kẻ thống lình có một sự đột biến lạ thường, Hắn ta mất đi vẻ hung hăng thường có, như kẻ bại trận, hắn cúi đầu lúc lắc đung đưa chiếc vòi dài thượt, dừng lại vài giây rồi nghiêng đầu rẽ lối tìm hướng khác tránh Đức Đầu Đà. Hắn thủng thẳng nhẹ nhàng bước đi trong sự tĩnh lặng. Hắn như không hề thấy có người ngồi trước mặt.
Thị giả miệng cứng đờ, vai so, tay thuột xuống vì không thể tưởng tượng được điều xưa nay chưa từng xảy ra lại vừa được tận mục sở thị. Quá đỗi lạ lùng và vô cùng khó hiểu trên đời. Anh vội móc lấy chiếc điện thoại có chức năng ghi hình và hướng về phía Đức Đầu Đà vội vã ghi hình.
Khi kẻ thống lình vừa quay đuôi rẽ tránh sang hướng khác, chợt nhiên qua màn hình điện thoại, anh thấy Đức Đầu Đà vươn cánh tay phải ra phía trước, lòng bàn tay hướng về phía voi đầu đàn. Bằng một giọng nói thoảng nhẹ như gió trong tiếng Bengali (tiếng ngôn ngữ riêng người Băng la đét), Đức Đầu Đà nói:
NÀY VOI, SA MÔN KHÔNG LÀM HẠI BẤT CỨ CHÚNG SINH NÀO. TỪ NAY CON ĐỪNG SỢ HÃI NGƯỜI TU HÀNH NHÉ.
Cả bầy voi cúi đầu trong im lặng, không một tiếng rống, im lìm từ tốn lướt qua mặt Ngài hướng về phía bờ sông gần đó. Hòa bình và tuân phục như đám trẻ nhỏ. Kỳ lạ là từ sau bận đó bầy voi rất nhiều lần quay lại khu rừng này nhưng không hề gây ra tiếng động hay rống lên tiếng nào như để giữ gìn sự an tịnh của khu rừng.
Đến lúc này, thực sự người thị giả như vỡ òa vì sung sướng và hạnh phúc. Anh đã biết tại sao và từ đâu hay nguyên nhân, tử thần đã không vung lưỡi hái lên với hai thầy trò lúc này. Anh vỡ òa vì mạng sống của anh và Đức Đầu Đà đã được bảo toàn. Nhủ thầm trên môi như từ vô thức: chỉ có bậc Sa Môn đại Phạm Hạnh, người đã đoạn trừ khỏi thập phần nội kết, đã diệt trừ cấu uế trong từng sát na tâm. Người đã thấu triệt pháp xuất thế, có tâm và tâm hành sinh diệt đồng sinh với vô phiền, vô não, vô cấu, vô uế và các tâm này cùng tự động phát sinh với bốn đại dương thánh tâm chỉ có ở Thánh Nhân là: Từ vô lượng tâm, Bi vô lượng tâm, Hỉ vô lượng tâm và Xả vô lượng tâm. Chỉ 4 thánh tâm sinh thánh quả này mới đủ pháp lực để chiêu cảm sự hung nộ của bầy voi, của hung thần rừng xanh trở nên hiền lành ngoan ngoãn đến vậy.
Vừa hớn hở, vừa cảm phục và trong sự tôn kính. Thị giả, nhanh như chớp, tụt xuống khỏi cội cây và la lên. Anh chạy đến thi lễ, nghiêng mình phủ phục dưới chân Đức Đầu Đà lúc này vẫn an nhiên tự tại như đại cội bồ đề, hé mắt nhìn gương mặt Ngài, anh thấy như đài sen trắng lung linh trước ngọn gió xuân đang hé nụ tỏa hương.
Không còn từ nào để đảnh lễ. Từ trong miệng anh tự động hống lên.
Sadhu sadhu! Vi diệu vi diệu! Lành thay lành thay! ĐỨC ĐẦU ĐÀ TỐI THƯỢNG SHILANADA.
(chuyện tiếp theo về Ngài:
– Đức Đầu Đà đọc tâm người vấn đạo
– Đức Đầu Đà vô ngại giải đạo với 2 cuốn kinh
– Đức Đầu Đà 3 năm 3 tháng 7 ngày tu hành không mái che
– Đức Đầu Đà không ăn 116 ngày liên tục
– Đức Đầu Đà qui y phật tử
– Đức Đầu Đà phát thần thông
– Đức Đầu Đà phá phong, ngăn vũ
– và nhiều chuyện lạ thường về Ngài
(trong 3 Ngài Đức Tăng Bảo Cao Quí đang còn hiện tiền được nhân dân Băng La Đét cung kính thiết lễ nhất thì Đức Đầu Đà Shilanana là bậc tối thượng nhất trong 3 Ngài).

5 comments

  1. Tứ vô lượng tâm cũng có ở phàm nhân, như người đắc thiền, phạm thiên. Cha mẹ đối xử với con cái cũng bằng tứ vô lượng tâm (từ, bi, hỷ, xả).

    1. Tứ vô lượng tâm của người phàm không so với của hàng thánh nhân được. Vì lẽ:
      – Người phàm chỉ có được phẩm chất vô lượng tâm trong một giới hạn đó là với con cái, vợ chồng, cha mẹ chứ mấy ai phát sinh vô lượng tâm với ng xa lạ, nguoi không quen biết.
      – Phàm 4 vô lượng tâm thường là thiếu trí tuệ nên sinh ra sự luyến ái, dính mắc, ràng buộc và lệ thuộc.
      – Phàm vô lượng tâm phát sinh và tồn tại một cách có điều kiện, khi hội đủ điều kiện thì hạnh phúc, vui tươi. Khi các điều kiện tiêu hoại là trở nên bị phiền não và thậm chí ngay cả khi chưa tiêu hoại cũng vì thương yêu con mà phát sinh phiền não. Ví dụ: có sức khoẻ, có vật chất, có tuổi thọ, con cái lục căn đầy đủ, trong sáng,…
      – Bậc thánh thì vô lượng tâm của họ có trí tuệ và không giới hạn, không cần điều kiện, không có ràng buộc, vô lượng tâm có mặt một cách tự động trong từng sát na tâm. Không phân biệt người hay thú vật,…

  2. Chỉ riêng việc ở một mình, một ngày một đêm, không đèn, không điện, trong khu rừng, kể cả dưới một mái lá che tạm thôi, đã KHÔNG AI DÁM NGHĨ ĐẾN, nói gì đến việc THỰC HÀNH.

    Đừng vội nói gì.

    Xin cung kính đảnh lễ BHANTE phạm hạnh CAO THƯỢNG như thế.

    1. Hẳn là Sư đã từng sống như thế nên mới có cái đánh giá chuẩn xác chắc nịch như vậy.
      Thưa Sư, với những người Trí, chỉ cần ở gần, hoặc nhìn thấy Bậc PHẠM HẠNH CAO THƯỢNG là ngay lập tức mình cảm nhận ngay cả một bầu không gian, từ trường hoàn toàn khác lạ so với nơi khác, con đã nhiều lần có duyên gặp, đảnh lễ các Ngài nên thấy vậy, chẳng hạn như Ngài KIM TRIỆU, ngài TEJANIYA, ngài TEJINDA, ngài SILA, ngài PA AUK, ngài REVATA.

  3. Phàm nhân đương nhiên có mức độ hạn hẹp hơn thánh nhân! Sadhu!

Comments are closed.